Ảnh bạn bè

Ảnh bạn bè
Chụp chiều ngày 12/9/2010

Chủ Nhật, 26 tháng 9, 2010

Chuyện con cà con kê về trường lớp An Lương Đông ngày xưa

Người viết:
Nguyễn Hoàng

lẽ người khi đã vào tuổi xế chiều thường hay nhớ lại chuyện đời xưa. Mình mở trang viết này để kể chuyện linh tinh của thời học sinh thơ dại. Bên cạnh những chuyện vui thì chắc cũng có chuyện không vui. Ngoài ra, do lâu quá nên trong câu chuyện có thể xảy ra "chuyện nọ xọ chuyện kia". Tuy nhiên, mong các bạn hãy dành ít thời gian kể chuyện học hành, trường lớp với tinh thần thân ái, khoan hòa đối với những vui buồn của một quãng đời ngày xưa nhé.
Mời nghe một bài hát trong lúc đọc.




Cái thời học xong lớp Nhất (tức là lớp 5 bây giờ), không nhiều các bạn được học tiếp lên bậc trung học, thường do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn. Mặc dù hoàn cảnh của mình không khá hơn gì nhưng bố mẹ quyết tâm cho con đi học nên mình có cơ hội dự thi đệ thất tại trường ALD.
Số thí sinh thi tại trường năm đó gần 400. Số ký danh của mình là 121. Cũng không rõ vì sao mình vẫn nhớ được. Hôm đi thi, mình thức dậy rất sớm, khoảng 4 giờ. Ăn sáng xong, mình cùng bố đi bộ 5km về trường để thi.
Buổi sáng, thi môn Tập làm văn và Khoa học thường thức (tổng hợp khá nhiều môn, kể cả lịch sử, địa lý,..). Đề “Tập làm văn” có một yêu cầu là :”Học sinh hãy kể một chuyện ngụ ngôn và bình luận chuyện ngụ ngôn đó.” Học trò đã được học hay đọc nhiều câu chuyện như “Con ve và con kiến”, “Thỏ và rùa”, “Con ếch muốn to bằng con bò”,... ở các sách Quốc văn toàn thư, Quốc văn toàn tập ở Tiểu học. Mình chọn câu chuyện “Con ve và con kiến” để làm.
Buổi chiều là thi môn Toán. Khác với những năm trước là đề thi gồm 2 bài toán đố, năm nay đề có 2 phần, phần 1 gồm những câu hỏi nhỏ, kiểm tra những kiến thức lý thuyết, những tính toán để đánh giá kỹ năng học toán, phần thứ hai mới là một bài toán đố. Bài toán này là một dạng toán chuyển động quen thuộc, đại ý rằng, một người X đi từ thành phố A đến thành phố B quãng đường 30km, vận tốc mỗi giờ là 5km. Cứ đi 10 phút thì ông X nghỉ 10 phút. Nếu bắt đầu đi lúc 8 giờ sáng, hỏi mấy giờ thì đến B? Bài này thì không khó nhưng có chút mẹo là khi đến B rồi thì không tính thời gian nghỉ 10 phút sau cùng này, tựa như bài toán trồng cây, lưu ý là vị trí đầu tiên thì phải có trồng 1 cây.
Đối với mình, bài toán này thuộc loại dễ nếu như so với các bài “Toán giả sử”, kiểu như vừa chó vừa gà 36 con, bó lại cho tròn đến đủ 100 chân,... nên làm nhanh, thong thả và cũng không trao đổi với ai. Thi xong, ra khỏi phòng, đối chiếu đáp số mình tá hỏa khi thấy đáp số khác với các bạn khác. Kiểm tra kỹ, hóa ra là trong bài thi của mình đã dùng dữ kiện “đi 10 phút, nghỉ 1 phút” chứ không phải “đi 10 phút, nghỉ 10 phút”. Vào xem lại đề thi trên bảng thì bị xóa đi rồi nên không rõ là mình đọc nhầm hay giám thị viết nhầm. Ra về lòng bất an, tính đi tính lại có lẽ không hỏng nhưng khó đỗ cao. Cách làm và trình bày là chính xác, nên lòng thầm mong giám khảo đọc kỹ bài làm và châm chước việc sai sót số liệu.
Cuối cùng, sau nhiều ngày chờ đợi cũng đến lúc treo bảng, mình đỗ thủ khoa cùng với Võ Đại Phúng (cùng điểm). Phải nói là giám khảo công minh, chấm bài không chỉ nhìn đáp số, đồng thời đánh giá cả quá trình làm bài của học trò nên mình mới được như vậy.
Vào học lớp đệ thất năm học 1967-1968, mình còn khá nhỏ nên chẳng nhớ được nhiều. Tạm xa bạn bè tiểu học, nay có thêm nhiều người quen mới ở các thôn xã khác. Có nhiều môn học mới, nhiều thầy cô dạy chứ không phải mỗi lớp một cô/thầy như hồi tiểu học. Chẳng hạn môn Anh văn, được thầy Hồ Văn Bá khai tâm với cuốn English For Today, Book 1. Môn Toán được Cô Thanh giảng dạy, những định lý, chứng minh đối với các bài toán Hình học làm nhiều bạn khá bỡ ngỡ.
(Còn tiếp)

Thứ Bảy, 25 tháng 9, 2010

Danh sách lớp Pháp văn

Lớp Pháp văn, khóa tuyển sinh 1967 chưa có danh sách. Nay bằng trí nhớ nhỏ nhoi và danh sách hôm họp mặt, mình tạm đưa lên đây, có thể nhiều chỗ không chính xác, mong các bạn bổ sung.

1. Lê Văn Bá
2. Lê Du (đã mất)
3. Nguyễn Hòa
4. Nguyễn Thuyết
5. Lê Thừa Hùng
6. Hoàng Xê
7. Nguyễn Nghĩa
8. Hoàng Thi Thơ Tâm (đã mất)
9. Nguyễn Văn Viễn
10. Lê Thị Hòa
11. Lê Văn Cam
12. Huỳnh Văn Tiến
13. Trương Thị Gái
14. Nguyễn Thị Kim Hoa
15. Trần Văn Năm
16. Mai Văn Danh
17. Nguyễn Sấn
18. Nguyễn Văn Ca
19. Hoàng Thị Nhỏ
20. Nguyễn Thị Hảo
21. Nguyễn Mây
22. Võ Két
23. Tôn Nữ Thị Hoa
24. Trương Văn Thuyên
25. Trần Hữu Cường
26. Đặng Cân
27. Lê Thắng
28. Trần Hữu Lưa
29. Lê Thị Thu Thủy (đã mất)
30. Lê Thị Mai (đã mất)
31. Trần Nhâm
32. Đinh Trường An
Ghi chú: Một số thông tin bổ sung ở đây do bạn Nguyễn Văn Ca, Võ Đại Phúng cung cấp. Cám ơn các bạn.

Chủ Nhật, 12 tháng 9, 2010

Danh sách lớp đệ thất 2 (Anh văn)

Mình cố gắng nhớ tên các bạn lớp đệ thất 2 (Anh văn) năm học 1967-1968. Mong nhận được danh sách của các bạn lớp đệ thất 1 (Pháp văn) để cùng đăng lên đây.
-----------------
Danh sách học sinh lớp đệ thất 2 (niên khoá 1967-1968)

1. Trần Thị Kim Đơn
2. Phạm Thị Hương
3. Nguyễn Thị Xuân
4. Trần Thị Xuân Tĩnh
5. Trương Can
6. Trần Cẩn
7. Nguyễn Chi
8. Lý Đắc Địch
9. Trần Hữu Đích
10. Lê Điểu
11. Hồ Đức
12. Thái Quý Đương
13. Trần Đá Em
14. Lê Hà
15. Trần Văn Hai
16. Hồ Đắc Hanh
17. Phạm Hạp (đã mất)
18. Trần Hậu
19. Trần Xuân Hoà
20. Huỳnh Ngọc Hoà
21. Nguyễn Hoàng
22. Trần Trọng Huyên
23. Đặng An Kha
24. Huỳnh Văn Khanh (đã mất)
25. Nguyễn Lạc
26. Võ Đại Lạp
27. Dương Lặng
28. Nguyễn Văn Lâu
29. Trần Mại
30. Nguyễn Ngọc Mùi
31. Huỳnh Phiên
32. Lê Phiến
33. Trần Văn Phúc
34. Võ Đại Phúng
35. Nguyễn Phước
36. Võ Đại Thanh Tâm
37. Nguyễn Thi
38. Huỳnh Tĩnh
39. Hà Văn Tiết
40. Trần Văn Thiện
41. Bùi Minh Trung
42. Trần Ngọc Truồi
---------


Năm lớp đệ ngũ có thêm các học sinh: Văn Thị Trang Khanh, Nguyễn Đình Hát chuyển đến lớp.
Rải rác một số bạn nghỉ học hay chuyển đi trường khác trong 4 năm học ấy.

Thêm vài ảnh nữa

Những nụ cười tươi rói! Các bạn bấm chuột vào ảnh để xem rõ hơn.













MỘT THỜI HOÀI NIỆM

Nhân dịp 45 năm thành lập Trường Trung học An Lương Đông, mình có viết một bài đăng ở đặc san. Nay trong lúc chờ đợi các bài viết mới, mình copy để các bạn cùng đọc cho vui.
Nguyễn Hoàng
------------

      Năm 1967 tôi thi đỗ vào lớp đệ thất trường Trung học An Lương Đông. Từ nhà đến trường cách xa hơn năm cây số nên việc tiếp tục học bậc trung học là một sự thay đổi đáng kể trong đời học trò ở làng quê nhất là phải vượt qua được kỳ tuyển sinh vào lớp đệ thất. Năm ấy có gần 400 thí sinh dự thi nhưng chỉ lấy đỗ khoảng 80 học sinh mà thôi.
      Những ngày đầu tiên đến trường, chúng tôi đón nhận nhiều điều mới mẻ. Giờ đây có nhiều môn học mới, nhiều thầy cô giảng dạy, có thêm bạn mới từ các xã khác nhau. Số học sinh đỗ vào đệ thất được chia làm 2 lớp theo môn ngoại ngữ. Lớp đệ thất 1 học Pháp văn và đệ thất 2 là Anh  văn.
        Trường lúc ấy đang còn đơn sơ, chỉ có hai dãy nhà học vuông góc với quốc lộ, đối diện nhau. Do phòng ốc còn thiếu thốn nên lớp chúng tôi không có chỗ học có định.  Đứng trên quốc lộ nhìn xuống qua cổng trường chúng ta bắt gặp cánh đồng, mùa thu mênh mông nuớc đầy, mùa xuân xanh mơn màu lúa non. Vài năm sau đó, một dãy phòng học khang trang, mái ngói đỏ au được xây dựng nối với hai dãy cũ làm thành hình chữ U, giải quyết được tình trạng chạy đổi phòng. Do trường đang trong quá trình xây dựng như vậy, chúng tôi không có những hàng phượng vỹ thắm rực màu hoa hay tán cây cổ thụ rợp bóng che mát sân trường lúc hè về; học sinh không có cơ hội để lẩn thẩn nhặt lá vàng rơi khi mùa đông đến. Nhưng chẳng có sao đâu, An Lương Đông vẫn là ngôi trường thân thiết của bao thế hệ học trò.
      Ngày chúng tôi vào trường, thầy Trần Gia Thọ đang là Hiệu trưởng. Đã lâu lắm rồi nhưng hình ảnh thầy vẫn còn đọng trong tôi. Lớp chúng tôi được học với thầy môn Công dân giáo dục trong một học kỳ. Thầy rất oai nghiêm, luôn mặc áo veston, đầu chải gọn gàng, đến trường bằng xe vespa. Chỉ cần thầy đi ngang, bọn học trò chúng tôi đứa nào đứa nấy dù đang chơi đùa, la hét gì đi nữa đều tự động im thin thít. Tuy nhiên khi vào lớp thầy nhẹ nhàng với học sinh và hình như chưa có ai trong lớp bị thầy la mắng hay bắt phạt. Chúng tôi cứ nhớ mãi hình ảnh mẫu mực của một vị thầy hiệu trưởng, đứng đầu một trường vào ngày xa xưa ấy.
        Năm đệ thất và đệ lục trôi qua khá lặng lẽ. Một phần chúng tôi còn quá nhỏ nên ký ức không còn giữ được nhiều, phần khác cuộc chiến thời kỳ này khá ác liệt. Hàng đêm tiếng súng trường, súng đại bác nổ đì đùng, sáng ra trên đường về trường, chúng tôi thỉnh thoảng bắt gặp những chiếc quan tài phủ cờ ba sọc hoặc những xác chết của bộ đội giải phóng do lính Sài Gòn mang ra trưng dọc đường. Đôi lúc những toán lính Mỹ với vũ khí, súng đạn trong tay, hành quân dọc theo đường quốc lộ, gây nên cảm giác bất an cho cả thầy lẫn trò. Do vậy, có nhiều giờ học, học sinh vào lớp nhưng giáo viên không đến hoặc đôi buổi chiều,  thầy cô cho nghỉ sớm để còn kịp đón xe trở về Huế.
        Niên khoá 1969-70 chúng tôi học lớp đệ ngũ. Năm học này có nhiều sự đổi mới. Chiến trận vùng Truồi có vẻ im ắng hơn. Thầy Trần Gia Thọ đã chuyển công tác lên thành phố Huế, thầy Hồ Văn Bá xử lý thường vụ Hiệu trưởng. Đầu năm học, một loạt các giáo viên mới được bổ nhiệm về trường, có nhiều thầy cô vừa tốt nghiệp, phần lớn đạt loại ưu, đầy năng lực và nhiệt huyết. Đó là quý thầy Huỳnh Ngọc Phiên, Lê Tự Rô, Nguyễn Phố,… quý cô Trần Thị Ngọc Anh, Trần Thị Tuyết Nha, Hoàng Thị Tao Phùng,… Cùng với quý thầy cô cũ như thầy Giám thị Hồ Đắc Toản, thầy Lê Thừa Xích, Hồ Trân, cô Nguyễn Thị Thanh, Huyền Tôn Nữ Liên Hương, Nguyễn Thị Thanh Ngọc,… lập nên một Hội đồng giáo viên đầy nhiệt huyết khiến toàn trường bừng lên một không khí mới mẽ, các phong trào học tập thi đua nở rộ. Chúng tôi được học những giờ toán đầy hứng thú với thầy Phiên. Thầy viết bảng rất đẹp, trình bày bài giảng rõ ràng, quan tâm động viên học trò học tập. Ngoài việc tận tâm dạy dỗ trên lớp, thầy không quản ngại vất vả, không nghỉ trưa, để dành thời gian sau khi ăn cơm để dạy thêm miễn phí cho học sinh. Những bài tập làm thêm, những bài toán chạy những nhận xét đúng chỗ đã dấy lên tinh thần học toán trong cả 2 lớp đệ ngũ ấy. Tôi vẫn còn nhớ một lần khi thấy nhiều học sinh trong lớp vất vả với những bài toán quỹ tích, thầy bảo rằng: “Nhìn kết quả học tập các em chưa cao, thầy không trách các em, trái lại thầy nghĩ rằng mình phải làm việc nhiều hơn, phải trăn trở chuẩn bị bài giảng tốt hơn để giúp các em học bài được dễ hiểu”.  Câu nói đó đã là phương châm của bản thân tôi trong quá trình làm nghề giáo sau này. Nhiều bạn tôi yêu thích môn toán cũng bắt đầu từ những tháng ngày này.
Chúng tôi được học Anh văn một cách bài bản là nhờ thầy Hồ Văn Bá phụ trách một số học kỳ các năm ở bậc trung học đệ nhất cấp. Thầy luyện phát âm cho học sinh rất cẩn thận. Tôi còn nhớ thầy nhấn mạnh cách phát âm phụ âm “th” trong các từ thing, think, this, that, the,… rằng cần phải để lưỡi giữa hai hàm răng rồi phát âm, tuỳ từng trường hợp có gió hoặc không có gió thoát ra. Thầy không cho rằng học sinh trường quê khả năng kém nên trong giờ văn phạm, thầy đã dùng tiếng Anh để giảng bài, chẳng hạn cách thành lập các thì, cách dùng, ý nghĩa của chủ động, bị động cách,… mà không cần dùng tiếng Việt như là phụ chú.
        Đối với học trò, thông thường môn Vạn vật là môn tụng bài, đến giờ cô đọc trò chép nhưng năm đệ tứ, cô Ngọc Anh đã thổi luồng sinh khí mới làm cho học sinh thích thú môn này. Cô giảng bài bằng một giọng nhẹ nhàng, ấm áp. Cô vẽ các hình về sinh vật, giải phẫu bằng phấn màu rất nhanh và rất đẹp. Cách kiểm tra của cô nhẹ nhàng và hiệu quả. Cuối mỗi giờ học, cô yêu cầu mỗi học sinh lấy một tờ giấy đôi để hỏi bài cũ lẫn bài mới vừa được học xong.
Môn Sử Địa chúng tôi được học với thầy Tôn Thất Lôi, một vị thầy lớn tuổi, khả kính. Cách giảng bài của thầy khác với những thầy cô trước đây. Thầy thường đặt những câu hỏi và yêu cầu học sinh trả lời trong giờ học chứ không chỉ thuần đọc chép. Và nếu tôi nhớ không nhầm thì lần đầu tiên chúng tôi tiếp xúc với kiểu thi trắc nghiệm từ những bài kiểm tra, thi học kỳ môn Sử Địa của thầy Lôi. Thầy cũng đa năng trong các hoạt động tập thể như tổ chức cắm trại, làm quản trò. Ngay việc xây dựng cổng trường An Lương Đông ngày ấy cũng có thầy tham gia thiết kế, vẽ mẫu.
        Vào giờ Việt văn chúng tôi thích thú với những chuyện kể của thầy Trương Quang Yến, những bài giảng về thân phận nàng Kiều, những áng văn thơ bất hủ của Bà Huyện Thanh Quan hay của Uy viễn tướng công Nguyễn Công Trứ,…
        Bọn học trò chúng tôi lúc ấy cũng có nhiều người quậy, nghịch. Có bạn đã hút thuốc lá, có bạn ham chơi bài xì tẩy, các-tê hay đá jeutons. Tôi còn nhớ một kỷ niệm vào giờ Lý Hoá của cô Nguyễn Thị Thanh. Lần ấy, mấy học sinh về nghỉ trưa tại nhà bạn Huỳnh Ngọc Hoà bên xã Lộc Điền. Trong nhà đi vắng, bạn ấy nấu cơm làm đồ ăn khá ngon và bưng ra một bình rượu thuốc, chắc là rượu của bố. Bạn bè khích nhau, mỗi đứa uống mấy ly, gần hết bình. Chúng tôi bị chếnh choáng nhưng đến giờ học buổi chiều thì cũng phải vào lớp. Có lẽ cô thắc mắc khi thấy có vài trò mặt mày đỏ bừng không rõ lý do, tôi cũng là một trong số ấy. Cô gọi tôi lên bảng kiểm tra bài cũ, may là tôi trả lời được nhưng không may có mùi rượu toả ra, cô biết ngay chúng tôi đã uống rượu. Khi tôi chuẩn bị bước về chỗ ngồi, cô nhẹ nhàng bảo:
       - Sao em lại uống rượu thế Hoàng?
Có lẽ vì ảnh hưởng của hơi men, tôi bỗng nhiên bạo dạn một cách không ngờ khi trả lời cô:
      - Thưa cô, em uống rượu để xem thử cảm giác của người say như thế nào.
        Cả lớp cười ồ lên, cô ngạc nhiên, chau mày tỏ vẻ không hài lòng và bảo:
     - Nói bậy, lần sau đừng có uống nữa, thôi đi về chỗ.
       Tôi dạ lí nhí và bước nhanh về chỗ ngồi.
      Mặc dù chúng tôi sai bét nhè, đáng bị tội nặng nhưng cô không mắng mỏ nhiều, chỉ nhắc nhở như vậy. Có lẽ đó là một kỷ niệm nhớ đời trong thời học sinh của tôi.
      Học sinh của trường trung học An Lương Đông phần lớn từ bốn xã Lộc Bổn, Lộc Sơn, Lộc An và Lộc Điền của quận Phú Lộc đến học. Những bạn ở Lộc Bổn và Lộc Sơn  đến trường bằng đủ mọi phương tiện: đi bộ, xe đò, xe lam và xe đạp. Vào buổi sáng sớm, học sinh thường tập trung từng nhóm chờ xe. Hể có một chiếc dừng lại, chúng tôi chen chúc nhau lên xe, thậm chí bu ngoài cửa, leo lên trần để kịp đến trường.
      Thời khoá biểu chia từ thứ hai đến thứ sáu, nhiều khi học cả hai buổi sáng chiều. Những học sinh ở xa trường thường ở lại buổi trưa nếu như học cả ngày. Lúc nào các bà mẹ rãnh, dậy sớm thì chuẩn bị bữa trưa cho mấy cô cậu học trò mo cơm dẻo với muối mè hay vài con cá kho mặn. Nếu không thì lót dạ bằng ổ bánh mì mua ở quán trước trường và cũng có khi đành mang bụng trống vào học buổi chiều. Chúng tôi cũng quen với những cái no cái đói như vậy.
     Những buổi sáng đẹp trời, gặp dịp nghỉ hai giờ cuối, tôi hay về nghỉ trưa tại nhà các bạn cùng lớp ở gần trường. Tôi nhớ nhiều lần cùng với Lê Điểu về nhà ngoại của anh, một căn nhà gỗ trong nếp vườn rộng ven bờ sông Truồi. Sau khi ra sông tắm, bơi lội thỏa thích, mấy anh em vào nhà cùng nấu ăn. Cơm nước xong, ngả người trên bộ phản gỗ, tôi nghe tiếng chim ríu rít trên mấy hàng cau quanh nhà. Bài vở cho buổi chiều đã chuẩn bị, tôi có một cảm giác sảng khoái, nhẹ nhàng.
     Chúng tôi sống trong không khí chan hoà ấm cúng của tình thầy trò, tình bè bạn như vậy. Có những buổi sáng đang đứng chờ xe về trường, gặp được thầy Phiên, thầy thường dừng xe gắn máy, cho phép tôi đi nhờ; những buổi chiều cùng bạn bè cuốc bộ hay chở nhau về bằng xe đạp cà tàng. Có những hôm mưa gió bão bùng, chúng tôi lóp ngóp trong những tấm nylon,… Đó là những mảnh kỷ niệm của tuổi học trò thơ dại gắn bó với mái trường An Lương Đông.
     Lớp tôi có gần 40 học sinh nhưng chỉ có 4 bạn nữ. Do ở nông thôn thời ấy phần nhiều học trò đi học muộn nên bạn bè cùng lớp đôi khi cách nhau 4,5 tuổi; cuối năm lớp đệ tứ đã có người cưới vợ. Tuy vậy mọi người cư xử khá bình đẳng, không có cảnh lớn bắt nạt bé. Những cậu học trò bé óc tiêu nhưng học giỏi thì cũng được những anh, chị lớn tuổi quý mến và nể trọng. Ngôi trường lúc ấy đang còn bé, khoảng chừng 7, 8 lớp, học sinh khá gần gũi nên trước và sau một khoá chúng tôi cũng quen nhau, nhất là những bạn học giỏi, khá hay có năng khiếu về văn nghệ, thể thao thế nào cũng được nhiều người biết đến.
     Tuổi học trò với niềm vui của ngày tựu trường, hân hoan khi những ngày nghỉ tết âm lịch đang dần đến, lúc mà kỳ thi đệ nhất lục cá nguyệt vừa kết thúc; man mác buồn lúc chia tay nghỉ hè. So với các bạn cùng lớp, tôi học hành tương đối nhẹ nhàng, bài vở không là mối bận tâm nên luôn luôn thích đến trường, đến lớp. Ở nhà  không có trò chơi gì thú vị, đôi lúc phải làm việc nhiều, tôi cảm thấy thời gian dài lê thê  trong 2 ngày thứ bảy và chủ nhật cuối tuần,…
     Tuổi học trò thời trung học diễn ra những bâng khuâng, xao xuyến trong lòng vì tuổi dậy thì chợt đến. Chúng tôi đang tuổi  mười lăm, mười sáu bắt đầu có những rung động, cảm xúc về bạn khác phái. Những buổi đến trường nếu bắt gặp người mình thầm để ý thì lòng dậy lên những niềm vui sướng, rộn rã. Dáng hình của bạn nữ với chiếc áo dài trắng bừng lên qua nắng mai hồng hay vừa vặn trong chiếc áo len màu xanh biển lúc trời trở lạnh vào ngày đông như những cánh hoa quý giá, chỉ dám đứng xa để ngắm với tâm hồn thanh tân, không gợn chút vẫn đục. Trái tim luôn đập mạnh khi đi bên cạnh người ấy nên chẳng bao giờ dám bạo dạn ngỏ lời bâng quơ, bóng gió vì cái đẹp ấy cũng mong manh lắm, nhỡ mà rạn vỡ thì sẽ buồn biết bao.
      Bốn năm tôi học ở trường trung học mến yêu An Lương Đông, một quãng đời không ngắn của tuổi học trò, đã khắc bao kỷ niệm. Nay trở lại trường xưa, khi tóc đã đổi màu, nhìn đàn em tung tăng đến trường mà ngỡ mình như đang sống lại của ngày tháng thời xa xăm…
                                                                                           Huế, tháng 10 năm 2005

Danh sách Thầy Cô

DANH SÁCH QUÝ THẦY CÔ GIẢNG DẠY VÀ HƯỚNG DẪN (CHỦ NHIỆM LỚP)
Khóa tuyển sinh năm 1967, sinh ngữ: Anh văn

Lớp/Môn học
Lớp đệ thất 2 (6/2)
Lớp đệ lục 2 (7/2)
Lớp đệ ngũ 2 (8/2)
Lớp đệ tứ 2 (9/2)
1. Việt văn
Lê Thị Thanh Minh
Nguyễn Thị Thanh Ngọc
Trương Quang Yến
Nguyễn Phố
Trương Quang Yến
2. CDGD
Trần Gia Thọ
Nguyễn Thị Thanh
Tôn Thất Lôi
Trương Quang Yến
Hoàng Thị Tao Phùng
3. Anh văn
Hồ Văn Bá
Trương Quang Yến
Huyền T. N Liên Hương
Hồ Văn Bá
Hồ Văn Bá
Đặng Thị Xuân Phúc
4. Sử-Địa
Phạm Thị Phương Thảo
Lê Thị Thanh Minh
Tôn Thất Lôi
Tôn Thất Lôi
Hoàng Thị Tao Phùng
5. Toán
Nguyễn Thị Thanh Ngọc
Nguyễn Thị Thanh
Huỳnh Ngọc Phiên
Trần Thị Tuyết Nha
6. Lý Hóa
Lê Thị Thanh Minh
Nguyễn Thị Phù Dung
Tôn Nữ Mỹ Liên
Nguyễn Thị Thanh
7. Vạn Vật
Tôn Nữ Mỹ Liên
Nguyễn Thị Phù Dung
Trần Thị Ngọc Anh
Trần thị Ngọc Anh
8. Hội họa
Trương Nghiêm
Hồ Đắc Toản
Nguyễn Vân Trình

GS HD
Lê Thị Thanh Minh
Trương Quang Yến
Huỳnh Ngọc Phiên
Trương Quang Yến
Sĩ số:
Lớp 6/2: HK1: 56, HK2: 49
Lớp 7/2: HK1: 45, HK2: 42
Lớp 8/2: HK1: 39, HK2: 39
Lớp 9/2: HK1: 34, HK2: 33
Ghi chú:
- Danh sách này mình ghi lại từ học bạ của 4 năm Trung học đệ nhất cấp. Có những chỗ đánh dấu hỏi ?? vì chữ bị mờ, không đọc được (Hậu quả của cơn lụt thế kỷ 1999, học bạ bị ngâm nước, sau khi phơi khô, chữ viết bằng bút bi còn đọc được, chữ viết bằng bút mực phần lớn bị nhòe!)
- Mong các bạn bổ sung để danh sách nói trên được đầy đủ, chính xác.
- Sĩ số các năm học biến đổi khá nhiều. Từ 56 học sinh ở học kỳ 1 lớp đệ thất, đến học kỳ 2 năm lớp đệ tứ chỉ còn 33.
* Nhờ bạn Võ Đại Phúng cung cấp thêm thông tin, nay các môn Sử địa, Toán và Hội họa lớp đệ thất đã có tên của thầy cô.